skip to Main Content

Về Đền Đô dâng hương Lý Bát đế

Đền Đô (hay Cổ Pháp điện hoặc đền Lý Bát Đế) thuộc xóm Thượng, làng Đình Bảng (này là phường Đình Bảng), thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Đây là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, từ xa xưa đã nổi tiếng là vùng văn hóa, phong cảnh hữu tình… Nằm cách Hà Nội gần 20km về phía Bắc, đền Đô trực thuộc địa phần hương Cổ Pháp, châu Cổ Pháp (làng Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh), đền Đô là quần thể kiến trúc tín ngưỡng thờ tám vị vua đầu tiên của triều nhà Lý. Đây là nơi thờ tự 8 vị vua nhà Lý là: Lý Công Uẩn tức Lý Thái Tổ (1009-1028); Lý Thái Tông (1028-1054); Lý Thánh Tông (1054-1072); Lý Nhân Tông (1072-1128); Lý Thần Tông (1128-1138); Lý Anh Tông (1138-1175); Lý Cao Tông (1175-1210) và Lý Huệ Tông (1210-1224). Đây là điểm du lịch Bắc Ninh hấp dẫn du khách cùng với đình làng Đình Bảng.

Đền Đô nằm trên vùng đất cổ linh thiêng, nơi phát sinh nhiều dòng họ lớn
Đền Đô nằm trên vùng đất cổ linh thiêng, nơi phát sinh nhiều dòng họ lớn

1. Lịch sử hình thành và xây dựng Đền Đô

Theo như đánh giá của các bậc thầy về phong thủy thì đền Đô được tọa lạc ở nơi đắc địa, vượng khí, phong thủy tốt, “Liên hoa bát diệp” (bông sen tám cánh) tỏa sáng tâm Phật, là đất rồng thiêng “Địa linh nhân kiệt xuất nhập hanh thông” (đất thiêng, người giỏi, ra vào may mắn), trước Đền có dòng sông Tiêu Tương chảy qua, cảnh quan cẩm tú, tụ cư. Có đến thăm đền Đô, bạn mới thấy vì sao nơi này lại khắc đậm hào khí Thăng Long, ghi đậm dấu ấn lịch sử. Đất Đình Bảng xưa là một trong ba “tam cổ” nổi tiếng lịch sử, thứ nhất Cổ Bi, thứ nhì Cổ Loa, thứ ba Cổ Pháp. Đất Cổ Pháp là nơi thắng địa bậc nhất Kinh Bắc, vượng khí linh thiêng. Đây là một vùng có nhiều hồ, đầm lầy, sông Tiêu Tương uốn khúc quanh co, thế đất mang hình con nhện, xòe ra như cánh hoa sen. Đó là huyệt đất quý, phát tích đế vương – ứng với 8 vua nhà Lý, hưng thịnh kéo dài tới 216 năm. Hiện nay, tại làng Đình Bảng, Bắc Ninh, còn đậm dấu ấn anh linh của các vị đế vương. Nơi đó chính là đền Đô còn gọi là Cổ Pháp Điện hay đền Lý Bát Đế nơi thờ 8 vị vua nhà Lý.

Kiến trúc Đền Đô đậm dấu ấn văn hóa thời Lý
Kiến trúc Đền Đô đậm dấu ấn văn hóa thời Lý

Đền được dựng trên nền đất mà xưa khi vua Lý Công Uẩn đăng quang và trở lại thăm quê hương. Theo sử sách, dân làng Đình Bảng đã cho xây dựng một ngôi nhà lớn làm nơi nghênh tiếp nhà vua. Khi vua Lý Công Uẩn băng hà, Lý Thái Tông lên ngôi kế vị vua cha, ông đã cho sửa sang lại ngôi nhà xưa và chọn làm nơi thờ tự vua cha và cũng từ đó đền trở thành nơi thờ tự các vị vua nhà Lý sau khi băng hà.
Đền Đô nguyên là Thái miếu nhà Lý, do Lý Thái Tổ khởi dựng năm 1019. Năm 1030, Thái miếu được Lý Thái Tông nâng cấp, mở rộng thành Đền thờ Lý Thái Tổ. Năm 1602, Vua Lê Kính Tông đã trùng tu, xây dựng Thái miếu với một quy mô lớn, thờ 8 vị vua triều Lý, lấy tên là Cổ Pháp Điện – Đền Lý Bát Đế. Trải qua gần 900 năm tồn tại, với nhiều lần trùng tu tôn tạo. Đền Đô đã trở thành một trong những địa chỉ tiêu biểu nhất của quê hương Bắc Ninh – Kinh Bắc.

Đền Đô nhìn từ trên cao hòa hợp giữa màu xanh cây cối
Đền Đô nhìn từ trên cao hòa hợp giữa màu xanh cây cối

Năm 1952, Đền Đô bị giặc Pháp phá hủy hoàn toàn. Hòa bình được lập lại ở miền Bắc vừa đúng một năm, khi về thăm Đảng bộ và nhân dân Đình Bảng, đứng trên nền đất ngôi đền xưa, Bác Hồ đã xúc động nói với mọi người: Đền Đô là công trình văn hóa đặc sắc, không chỉ của Đình Bảng mà của nhân dân cả nước. Có điều kiện, chúng ta sẽ xây dựng lại để tỏ lòng thành kính, biết ơn các nhà vua Lý. Nhớ lời dạy của Bác, với ý thức trách nhiệm của những người con sống trên quê hương phát tích các vương triều Lý, cùng với những tấm lòng hảo tâm công đức, sự quan tâm của các ngành, các cấp, năm 1989, kỷ niệm 980 năm ngày Lý Công Uẩn khởi lập vương triều Lý và hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, nhân dân Đình Bảng đã bắt tay xây dựng lại Đền Đô theo nguyên mẫu xưa, ngay trên nền ngôi đền cũ. Hôm nay, sau hơn 21 năm, miệt mài lao động, 21 hạng mục công trình của Đền Đô đã được xây dựng lại hoàn toàn. Đền Đô sẽ mãi mãi xứng đáng là nơi “Tìm về nguồn cội” của nhân dân cả nước. Từ ngày khởi công tái dựng đến nay, cùng với các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, đã có hàng triệu lượt du khách trong nước và quốc tế về dâng hương tưởng niệm các nhà vua Lý và vãng cảnh đền. Năm 1991, Đền Đô đã được Nhà nước trao Bằng công nhận “Di tích Lịch sử – Văn hóa Đền Đô”.

2. Quy mô kiến trúc và diện tích Đền Đô

Kiến trúc đền Đô được xây dựng theo kiểu “Nội công ngoại quốc”, Đền Đô được xây dựng thành 2 khu: Nội thành và ngoại thành, với tổng diện tích 31.250m2, được bao bọc bằng một bức tường thành cao 2,3m, rộng 0,9m. Đền Đô được bố cục hài hòa, bề thế với 21 hạng mục công trình kiến trúc độc đáo, chạm khắc tinh xảo.

Phương Đình (nhà Vuông )
Phương Đình (nhà Vuông )

Khu nội thành:
Hai cánh cổng vào nội thành có trạm khắc hình năm con rồng nên được gọi là Ngũ Long Môn.
Chính điện gồm trước tiên là Phương đình (nhà vuông) rộng đến 70 m² với 8 mái và 3 gian rộng. Tiếp đó là nhà Tiền tế rộng 220 m² với 7 gian. Điện thời vua Lý Thái Tổ được đặt tại đây. Ở phía bên trái điện thời có treo một tấm bảng ghi lại “Chiếu dời đô” của vua Lý Thái Tổ với đúng 214 chữ, tương ứng với 214 năm trị vì của 8 đời vua nhà Lý. Ở phía bên phải có treo tấm bảng ghi bài thơ nổi tiếng “Nam quốc sơn hà Nam đế cư…”.

Chiếu dời đo của Lý Công Uẩn
Chiếu dời đo của Lý Công Uẩn

Cuối cùng là Cổ Pháp điện rộng 170 m² gồm 7 gian là nợi đặt tượng, bài vị và ngai vàng của 8 vị vua nhà Lý. “Cổ Pháp Điện” là công trình chính của Đền Đô được xây dựng hoành tráng, trang nghiêm, đặt các pho tượng 8 vị vua triều Lý. Nơi thờ Lý Thái Tổ và Lý Thái Tông là gian giữa; Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông và Lý Thần Tông được thờ lần lượt tại ba gian bên phải; Lý Anh Tông, Lý Huệ Tông và Lý Cao Tông được thờ lần lượt ở ba gian bên trái. Nội thất Đền Đô được bài trí chi tiết, đồ thờ phong phú. Tượng các đức vua ở hậu đô, hương án, bài vị, hoành phi, câu đối, sập và mâm thờ… đều được sơn son thiếp vàng rực rỡ.

Khu thờ tự ở Đền Đô
Khu thờ tự ở Đền Đô

Bên trong khu nội thành còn có nhà chuyển bồng, mang kiến trúc theo kiểu chồng diêm 8 mái, 8 đao cong mềm mại, nhà tiền tế, nhà để kiệu thờ và nhà để ngựa thờ. Phía Đông đền còn có nhà bia, đây là nơi đặt “Cổ Pháp Điện Tạo Bi” (bia đền Cổ Pháp). Tấm bia đá này có chiều cao 190cm, chiều rộng 103cm, độ dày 17cm, được khắc dựng năm Giáp Thìn (1605) do chính tiến sĩ Phùng Khắc Khoan soạn văn bia và ghi lại sự kiện lịch sử nhà Lê xây dựng lại đền, ghi công đức các vị vua nhà Lý.

Bia đền Cổ Pháp (bia đền Đô)
Bia đền Cổ Pháp (bia đền Đô)

Khu ngoại thành:
Đền Đô có khu ngoại thành bao gồm Thủy đình, Phương đình, nhà chủ tế, nhà kho, nhà khách và đền thờ vua Bà Lý Chiêu Hoàng (còn gọi là đền Rồng). Phía trước Năm Cửa Rồng (Ngũ Long Môn) là Hồ Bán Nguyệt có diện tích 9.500m2. Giữa hồ có nhà Thủy Đình vuông vức, 2 mái chồng uốn lượn hài hòa giữa một không gian thoáng đãng. Trước đây, nhà Thủy Đình ở Đền Đô đã được chọn làm hình ảnh in trên “Giấy năm đồng vàng” Đông Dương. Ngày trước, đây là nơi ngồi xem biểu diễn rối nước của các chức sắc.

Thủy đình đền Đô và hồ bán nguyệt là nơi diễn ra các hoạt động hát quan họ
Thủy đình đền Đô và hồ bán nguyệt là nơi diễn ra các hoạt động hát quan họ

Nhà văn chỉ (thờ quan văn) và võ chỉ (thờ quan võ) tiêu biểu nhất trong suốt 216 năm của vương triều Lý nằm ở hai bên tả hữu đền Đô. Với ba gian chồng diêm rộng 100 m², nhà văn chỉ nằm phía bên trái khu nội thành thờ Tô Hiến Thành và Lý Đạo Thành, đây là hai quan văn có công lớn giúp nhà Lý.
Có kiến trúc tương tự nhà văn chỉ, nhà võ chỉ nằm ở phía phải khu nội thành thờ Lê Phụng Hiểu, Lý Thường Kiệt, Đào Cam Mộc, những quan võ có công lớn giúp vương triều Lý.

Lễ hội Đền Đô

Theo kinh nghiệm du lịch Bắc Ninh, hằng năm, vào ngày 15-3 âm lịch, kỷ niệm ngày Lý Thái Tổ đăng quang, nhân dân Đình Bảng lại tưng bừng mở hội, đón du khách trên mọi miền Tổ quốc về chung vui và dâng hương tưởng niệm các nhà vua Lý.

Lễ hội đền Đô diễn ra quy mô, hoành tráng
Lễ hội đền Đô diễn ra quy mô, hoành tráng

Bên cạnh phần lễ được tổ chức trang trọng của các đoàn địa phương và nhiều tỉnh thành trong cả nước, phần Hội với các trò chơi dân gian như thi nấu cơm nồi đất, bắt vịt dưới hồ, vật, chọi gà, thi đấu cờ người, hát quan họ dưới thuyền… cũng được duy trì tổ chức, làm cho không khí ngày hội thêm tưng bừng, hấp dẫn, thể hiện nét văn hóa dân gian, đậm đà bản sắc truyền thống của một vùng quê Kinh Bắc.

Tags: phuong tien giao thong, diem du lich bac ninh, khach san bac ninh, dac san bac ninh

This Post Has 0 Comments

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back To Top