Tham quan khu di tích đền Hùng-Phú Thọ

Từ xưa đến nay, khu di tích lịch sử đền Hùng có một vị trí rất lớn trong tâm linh người Việt. Đây là nơi quê cha đất tổ, là vùng đất linh thiêng để hành hương.

“Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ tổ mồng 10 tháng 3″

Du lịch Phú Thọ về đền Hùng vào dịp lễ,ta thấy được không khí náo nức, đông vui cũng như sự linh thiêng của ngôi đền thờ tổ dân tộc.

Chính bởi tầm quan trọng đó, khi Bác Hồ kính yêu của dân tộc ta đã từng nói “ Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.
Khu Di tích Đền Hùng nằm trên núi Nghĩa Lĩnh, thuộc thôn Cổ Tích, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
Đền được xây vào thế kỷ 15, tương truyền nơi đây người con trưởng của Lạc Long Quân và Âu Cơ lên làm vua lấy hiệu Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang. Khu di tích đền Hùng là một quần thể kiến trúc thâm nghiêm trên núi Nghĩa Lĩnh. Từ Hà Nội theo quôc lộ số 2 đến thành phố Việt Trì (84km) đi tiếp khoảng 10km đến ngã ba Hàng rẽ về bên trái 3 km là đến khu di tích.

Cổng vào khu di tích đền Hùng

Cổng vào khu di tích đền Hùng

Núi Hùng còn có tên khác là Hy Cương, Hy Sơn, Nghĩa Lĩnh, Nghĩa Cương, Bảo Thiếu Lĩnh, Bảo Thiếu Sơn,…), có độ cao 175 m so với mặt nước biển. Tục truyền rằng, núi Hùng là chiếc đầu rồng hướng về phía Nam , mình rồng uốn khúc thành núi Vặn, núi Trọc, núi Pheo,…. Núi Vặn cao 170m, xấp xỉ núi Hùng. Núi Trọc nằm giữa núi Hùng và núi Vặn, cao 145 m. Ba đỉnh núi: núi Hùng, núi Vặn, núi Trọc theo truyền thuyết là ba đỉnh “Tam sơn cấm địa” được dân gian thờ từ rất lâu đời.
Toàn khu di tích Đền Hùng xưa kia là rừng già nhiệt đới, đến nay chỉ còn núi Hùng là rậm rạp xanh tươi với 150 loài thảo mộc thuộc 35 họ, trong đó còn sót lại một số cây đại thụ như chò, thông, lụ,…và một vài giống cây cổ sơ như kim giao, thiên tuế,..
Từ chân núi, du khách sẽ được chiêm ngưỡng lần lượt các di tích kiến trúc như: Khu di tích lịch sử đền Hùng gồm có đền Hạ và chùa, đền Giếng, đền Trung, đền Thượng, lăng vua Hùng.
Tổ hợp đền Hùng gồm có : đền Hạ, đền Trung, đền Thượng, lăng vua Hùng và đến Giếng với kiến trúc đậm nét dân tộc Việt.
Đền Hạ: Du khách đi từ chân núi Hùng rẽ qua Đại môn (cổng đền khu di tích) leo qua 225 bậc thang xây bằng gạch sẽ lên đến đền Hạ và chùa Thiên Quang tự .
Đền Hạ được xây vào thế kỷ 15, tương truyền đây là nơi Mẹ Âu Cơ sinh bọc trăm trứng, nở thành trăm người con. Mẹ Âu Cơ dẫn 50 người con lên núi, Lạc Long Quân dẫn 49 người con xuống biển, để lại người con trưởng làm vua hiệu là Hùng Vương, đóng đô ở Phong Châu , Phú Thọ, đặt tên nước là Văn Lang. Trước cửa đền Hạ có cây thiên tuế, nơi đây chủ tịch Hồ Chí Minh trên đường về tiếp quản thủ đô có nói chuyện với chiến sĩ của đại đoàn quân tiên phong “Các vua Hừng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước ” .

Đền Hạ

Đền Hạ

Sau này, đền Hạ được xây dựng lại trên nền đất cũ vào thế kỷ XVII – XVIII. Kiến trúc đền kiểu chữ “nhị” gồm hai toà tiền bái và hậu cung, mỗi toà ba gian, cách nhau 1,5m. Kiến trúc đền Hạ khá đơn sơ kèo cầu suốt, bẩy gối vào đầu kèo làm cho mái sau dài hơn mái trước. Đốc xây liền tường với đốc Hậu cung, hai bên đắp phù điêu, một bên voi, một bên ngựa. Bờ nóc phẳng và không trang trí mỹ thuật. Mái lợp ngói mũi, địa phương gọi là ngói mũi lợn.
Chùa Thiên Quang: được xây theo kiểu nội công ngoại quốc, gồm các toà Tiền đường (5 gian), Thiêu hương (2 gian), Tam bảo (3 gian) ở phía trước, dãy hành lang, nhà Tổ ở phía sau. Các toà được làm theo kiểu cột trụ, quá giang gối đầu vào cột xây, kèo suốt. Mái chùa được lợp ngói mũi, có đầu đao cong. Bờ nóc tiền đường đắp lưỡng long chầu nguyệt. Chùa thờ Phật theo lối Đại thừa. Trước sân chùa có 2 tháp sư, hình trụ, 4 tầng; trên nóc đắp hình hoa sen; lòng tháp xây rỗng; cửa vòm nhỏ. Trong tháp có bia đá khắc tên các vị hoà thượng đã tu hành và viên tịch tại chùa.

Chùa Thiên Quang được xây dựng theo kiểu nội công ngoại quốc

Chùa Thiên Quang được xây dựng theo kiểu nội công ngoại quốc

Chùa còn có một gác chuông, được xây dựng vào thế kỷ XVII, gồm 3 gian, 2 tầng mái, 4 vì kèo kiểu chồng rường kết hợp với bẩy kẻ. Các bẩy, kẻ hầu như để trơn, không chạm trổ. Quả chuông treo trên gác không ghi niên đại đúc chuông mà chỉ ghi: “Đại Việt quốc, Sơn Tây đạo, Lâm Thao phủ, Sơn Vi huyện, Hy Cương xã, Cổ Tích thôn cư phụng”.
Đền Trung (Hùng Vương Tổ miếu): Từ đền Hạ du khách leo thêm 168 bậc đá nữa là tới đền Trung. Tương truyền đền Trung là nơi các Vua Hùng cùng các Lạc hầu, Lạc tướng du ngoạn ngắm cảnh thiên nhiên và họp bàn việc nước.

Đền Trung trong khu di tích đền Hùng

Đền Trung trong khu di tích đền Hùng

Cũng nơi đây vua Hùng thứ 6 đã nhường ngôi cho Lang Liêu – người con hiếu thảo vì đã có công làm ra bánh chưng, bánh dày. Đền được xây theo kiểu hình chữ nhất, có 3 gian quay về hướng nam, dài 7,2m, rộng 3,7m. Mái hiên cao 1,8m, không có cột kèo, cầu quá giang gối vào tường, bít đốc tường hậu, phía trước mở 3 cửa.

Đền Trung nhìn từ phía Ngoài

Đền Trung nhìn từ phía Ngoài

Đền Thượng: Từ đền Trung đi tiếp 102 bậc đá là đến đền Thượng, tương truyền đây là nơi các vua Hùng làm lễ tế Trời Đất, Thần Núi và Thần Lúa. Đây cũng là nơi Thục Phán sau khi được vua Hùng thứ 18 truyền ngôi, dựng cột đá thề sẽ trông nom ngôi đền và giữ gìn cơ nghiệp nhà Hùng được đặt trên đỉnh núi Hùng. Thời Hùng Vương, các Vua Hùng thường lên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh để tiến hành nghi lễ tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp thờ trời đất, thờ thân lúa, cầu mong mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt, nhân khang vật thịnh.

Đền Thượng

Đền Thượng

Tục truyền đây còn là nơi vua Hừng thứ 6 lập đàn cầu trời ban cho người tài ra giúp nước đánh giặc ân. Sau khi Thánh Gióng đánh tan giặc và bay về trời, vua Hùng cho lập đền thờ vọng trên đỉnh núi, về sau, nhân dân đặt thêm bài vị vua Hùng vào thờ cúng. Đền Thượng có tên chữ là “Kính thiên lĩnh điện” (Điện cầu trời) còn có tên là “Cửu trùng tiên điện” (Điện giữa chín tầng mây).Khi tham quan đền Thượng du khách sẽ thấy bức đại tự đề “Nam Việt triệu tổ ‘ (Tổ khai sáng nước Việt Nam). Kiến trúc đền được làm kiểu chữ Vương, đơn giản, kèo cầu, không có chạm trổ, xây dựng qua bốn cấp khác nhau gồm: nhà chuông trống (cấp I), đại bái (cấp II), tiền tế (cấp III) và hậu cung (cấp IV).

Cột đá Thề ở khu vực đền Trung

Cột đá Thề ở khu vực đền Trung

Bên phía tay trái Đền có một cột đá thề, tương truyền do Thục Phán dựng lên khi được Vua Hùng thứ 18 truyền ngôi để thề nguyện bảo vệ non sông đất nước mà Hùng Vương trao lại và đời đời hương khói trông nom miếu vũ họ Vương. Cột đá cao 1,3m, rộng 0,3m, hình vuông. Đến năm l968, Ty Văn hoá Vĩnh Phú tôn tạo lên bệ như hiện nay.

Lăng vua Hùng: Một trong những nơi quan trọng trong khu di tích là Lăng vua Hùng. Tương truyền đây là khu mộ của Vua Hùng thứ 6. Lăng mộ nằm ở phía đông Đền Thượng, trên một thế núi đẹp, có vị trí đầu đội sơn chân đạp thủy, mặt quay theo hướng Đông Nam. Xưa là mộ đất, thời Tự Đức năm thứ 27 ( 1870) đã cho xây mộ dựng lăng. Thời Khải Định tháng 7 (1922) khu mô được trùng tu lại Lăng hình vuông, cột liền tường, có đao cong 8 góc, tạo thành 2 tầng mái. Tầng dưới 4 góc đắp 4 con rồng tư thế bò, tầng trên đắp rồng uốn ngược, đỉnh lăng đắp hình “quả ngọc” theo tích “cửu long tranh châư’. Mái đắp ngói ống, cổ diêm, 3 phía đều đắp mặt hổ phù. Ba mặt Tây, Đông, Nam đều có cửa vòm, 2 bên cửa đều đắp kỳ lân, xung quanh có tường bao quanh, trang trí hoa, chất liệu bằng đá. Trong lăng có mộ Vua Hùng. Mộ xây hình hộp chữ nhật dài 1,3m, rộng 1,8m, cao 1,0m. Mộ có mái mui luyện. Phía trong lăng có bia đá ghi: Biểu chính (lăng chính). Phía trên ba mặt lăng đều có đề: Hùng Vương lăng (Lăng Hùng Vương).

Lăng vua Hùng (tương truyền đời Hùng Vương thứ 6)

Lăng vua Hùng (tương truyền đời Hùng Vương thứ 6)

Đền Giếng: Từ lăng đi xuống, đền ở chân núi phía Đông Nam. Trong đền có giếng Ngọc, nước trong vắt, đầy quanh năm, soi gương được. Đền Giếng thờ Ngọc Hoa và Tiên Dung là con gái yêu của vua Hùng thứ 18 thường hay chải tóc và soi guơng ở giếng này. Ngày nay, ở gần Công Quán (nơi để tiếp khách thập phương) có Bảo tàng Hùng Vương được xây dựng tương đối lớn trưng bày nhiều hiện vật thời kỳ Hùng Vương dựng nước qua nền văn hoá thời đại đồ đá, đồ đồng, đồ sắt. . .

Đền Giếng, phía trước là giếng Ngọc

Đền Giếng, phía trước là giếng Ngọc

Cổng Đền Giếng được xây vào thế kỷ XVIII, kiểu dáng gần giống cổng chính nhưng nhỏ và thấp hơn. Cổng xây theo kiểu kiến trúc 2 tầng 8 mái. Tầng dưới, giữa có một cửa xây kiểu vòm, hai bên có hai cột trụ trên lắp nghê chầu. Tầng trên giữa cổng có bức đại tự đề: “Trung sơn tiểu thất” (ngôi miếu nhỏ trong núi). Hai bên có đề câu đối và tượng hai võ sỹ. Mặt sau cổng đắp hổ, mỗi con một bên.
Đền Tổ mẫu Âu Cơ: nằm trên đỉnh Ốc sơn (thường gọi là núi Vặn) xây dựng vào năm 2001.Ngôi đền tổ mẫu có các hạng mục kiến trúc sau: đền chính, tả, hữu vu, nhà bia, trụ biểu, tam quan, nhà tiếp khách và hệ thống sân, vườn. Kiến trúc đền theo lối cổ, với cột, xà, hoành, rui bằng gỗ lim, mái được lợp bằng ngói mũi hài, tường bằng gạch. Đền chính kiểu chữ đinh, có diện tích 137m2.

Đền tổ mẫu Âu Cơ

Đền tổ mẫu Âu Cơ

Trong đền có tượng thờ Mẹ Âu Cơ và Lạc hầu, Lạc tướng. Đường đi lên đền được xây bằng 553 bậc đá.
Đền thờ Lạc Long Quân: khởi công xây dựng năm 2007, tại đồi Sim, với tổng diện tích đất sử dụng là 13,79ha, khánh thành năm 2009, gồm các hạng mục: nghi môn, trụ biểu, nhà bia, đền chính (gồm tiền tế, đại bái, hậu cung), tả, hữu vu. Trong đền đặt tượng Lạc Long Quân, đúc bằng đồng, bệ tượng, lư hương được tạc bằng đá khối, họa tiết trang trí tinh xảo.

Đền thờ tổ Lạc Long Quân

Đền thờ tổ Lạc Long Quân

Ngày nay, ở gần Công Quán (nơi để tiếp khách thập phương) có Bảo tàng Hùng Vương được xây dựng tương đối lớn. Đây trưng bày nhiều hiện vật thời kỳ Hùng Vương dựng nước qua nền văn hoá thời đại đồ đá, đồ đồng, đồ sắt…
Du lịch tham quan đền Hùng, du khách sẽ cảm nhận được sự linh thiêng ,cùng những tầng lớp văn hóa, tín ngưỡng thờ cúng nông nghiệp. Đền Hùng là nơi giáo dục truyền thống văn hóa, nhớ về cội nguồn dân tộc cho các tầng lớp con dân người Việt thế hệ sau.
Ngoài các đền Hùng, đến Phú Thọ, du khách còn có thể tham quan nhiều điểm du lịch hấp dẫn khác như hang Lạng, khu du lịch Đảo Ngọc Xanh, bảo tàng Đền Hùng, công viên Văn Lang…

Tags: phuong tien giao thong, diem du lịch phu tho, khach san phu tho,dac san phu tho

Các điểm du lịch, Phú Thọ