Bắc Ninh là cái nôi của làng quan hộ.Đây là tỉnh tiêu biểu cho văn hóa làng quê Bắc Bộ.Chỉ cách thủ đô Hà Nội 31 km, Bắc Ninh là điểm du lịch thu hút du khách không chỉ bởi điệu quan họ mà bởi những cơ tầng văn hóa nằm trong mỗi xóm làng.Đình làng Đình Bảng, chùa Dậu, đền Đô, chùa Phật Tích cùng nhiều lễ hội độc đáo

Gà Hồ – Đặc sản tiến vua

Người xưa có câu “Ăn Bắc mặc Nam” quả không sai. Những món ăn miền bắc tinh túy, ngon và đậm đà chất quê. Du lịch Bắc Ninh, nếu có dịp bạn hãy thưởng thức bánh tẻ làng chờ, xôi khúc, bún làng Tiền…và đừng quê Gà Hồ Bắc Ninh, món ăn tiến vua ngày xưa.

Gà Hồ thuộc làng Thổ, thị trấn Hồ, Bắc Ninh, đây là giống gà quý

Gà Hồ thuộc làng Thổ, thị trấn Hồ, Bắc Ninh, đây là giống gà quý

Làng Lạc Thổ, thị trấn Hồ (Thuận Thành, Bắc Ninh) nổi tiếng với giống gà Hồ đẹp, vạm vỡ, nặng khoảng 5-6kg. Đây là giống gà quý, từ xa xưa đã được chọn để dâng lên tiến Vua. Không chỉ có mẫu mã đẹp, chất lượng thịt ngon, gà trống được ví như linh vật, biểu tượng của “Văn, Võ, Dũng, Nhân, Tín” của bậc quân tử. Tuy nhiên, theo thời gian, giống gà này dần mai một, nhất là giai đoạn chiến tranh. Vì thế, giống gà này còn ghi vào trong sách Đỏ, cần được bảo tồn. Nhờ sự cố gắng của dân làng Lạc Thổ, giống gà này dần được khôi phục, trở thành đặc sản của tỉnh Bắc Ninh.
Vốn có tên gọi rất “quê” là gà Tồ, tức giống gà này tồ tề, ngộc nghệch, nhưng từ xa xưa, người dân làng Lạc Thổ đã thuần hóa và đặt tên mới là gà Hồ. Cái tên mới có vẻ hợp hơn với những chú gà thân to, chân cao, hùng dũng này. Có vẻ ngoài tồ tề nhưng cái “khôn” của chúng là ở chỗ, chúng sống với nhau tương đối hòa thuận trong một không gian hẹp và chỉ đánh nhau khi “ghen mái” mà thôi.

 Tiêu chuẩn chọn gà Hồ : đầu công, mình ốc, cánh võ trai, đuôi nơm

Tiêu chuẩn chọn gà Hồ : đầu công, mình ốc, cánh võ trai, đuôi nơm

Theo những người nuôi gà Hồ còn lại tại Lạc Thổ, chuyện xưa truyền lại, giống gà này có con nặng tới 5 quan 2 (mỗi quan có 12 xu và tương đương với 1,2kg). Mỗi dịp tết đến xuân về, các hàng giáp (xóm) lại tổ chức thi gà nấu chín tại đình làng. Những chú gà này được để trang trọng trên mâm lễ phủ vải đỏ kín mít, cố định ở những tư thế khác nhau: gà quì, gà nhổm, gà đứng hay gà bay… “Trước khi mở lễ chấm thi, hàng xóm chỉ biết nhà này nhà kia nuôi gà vì nghe thấy tiếng gáy lanh lảnh, mà chẳng ai được nhìn thấy con gà đó thực sự ra sao. Khi đồng loạt mở “niêm phong”, bà con hàng xóm mới được chiêm ngưỡng và bình chọn “hoa hậu gà”. Ấy là một cách để các giáp cạnh tranh lành mạnh”.

Các cụ trong làng Hồ có câu:

“Gà Hồ mang rộn rã sinh sôi
Gà lại vào tranh thắm nghĩa đời
Lúa bên ngô vun nguồn gốc lạc
Hội thi càng quý nét tinh khôi”…

Gà Hồ có tầm vóc khá to so với các giống gà địa phương khác. Đặc điểm của con trống theo thành ngữ chọn giống của dân địa phương là : Đầu công, mình ốc, cánh võ trai, đuôi nơm (chính cái nơm úp cá, để đạp mái dễ) da bụng, cổ màu đỏ, mào xuýt (mào kép), diều cân ở giữa; quản ngắn, đùi dài (cho thịt đùi nhiều) chân tròn, ngón tách nhau, da vàng, thịt ngon, lông mã lĩnh hay mận chín. Lông gà mái màu lá chuối hay màu võ nhãn, màu đất thó. Gà trống da vàng, màu lông mận chín hay mận đen, ngực nở, chân cao vừa phải, mào xuýt, thân hình chắc chắn. Khối lượng mới nở 45 g/con, lúc trưởng thành con trống nặng 4,5 – 5,5 kg/con; con mái nặng 3,5 – 4,0 kg/con. Bắt đầu đẻ lúc 185 ngày tuổi. Một năm đẻ 3 – 4 lứa, mỗi lứa đẻ được 10-15 quả trứng. Khối lượng trứng 50-55 g/quả.

Giống gà Hồ được nhiều người săn lùng vào dịp tết

Giống gà Hồ được nhiều người săn lùng vào dịp tết

Theo người dân làng Lạc Thổ, nhân giống gà này không đơn giản. Chỉ cần con trống quá to, con mái quá nhỏ, ấp gà con cũng khó. Và dù đẻ 14 -15 quả trứng mỗi lứa nhưng những con gà mái mẹ to cao, nặng cân lại rất hay làm vỡ trứng, khó ấp nở. Người chăn nuôi gà phải cẩn thận, tỷ mỉ như con mọn, để ý chúng hàng ngày với hy vọng mỗi lứa có thêm chục chú gà con. Ngay cả khi gà con đã được nở thì gà mẹ cũng dễ xoay đẹn làm chết con. Tỷ lệ sống sót sau sinh sản chỉ đạt 50%. Gà Hồ đẻ trứng nhiều lứa trong một năm, nhưng nếu để chúng ấp nở dày, chất lượng gà sẽ bị ảnh hưởng.
Cân nặng trung bình của một con gà Hồ khoảng 5 – 6 kg và được bán với giá từ 500.000-700.000 đồng/kg. Những tháng giáp Tết, lượng khách đổ về làng Lạc Thổ mua gà ngày càng đông, nhiều khi không đủ đáp ứng khách hàng. Gà Hồ có giá 3-4 triệu đồng một con, cao hơn nhiều so với các giống khác. với giá cao như thế nên phải sang trọng lắm, gà Hồ mới có mặt trên mâm cơm, kể cả ngày lễ tết, bởi chỉ chi phí cho chú gà này thôi đã mất tới gần 1,5 triệu đồng. Giống gà này không có mặt trên mâm cỗ cưới hỏi của mỗi gia đình bởi giá trị quá cao.

Thịt gà Hồ chắc, thơm ngon

Thịt gà Hồ chắc, thơm ngon

Gà Hồ có thân hình vạm vỡ và là giống gà địa phương có từ lâu đời nên cũng có những ưu điểm của gà địa phương. Thịt, trứng thơm ngon, sức chống chịu với ngoại cảnh tốt, nhưng sản lượng trứng thấp. Do đó, gà Hồ được xếp vào nhóm “ gà hướng thịt “ của Việt nam.
Theo kinh nghiệm du lịch Bắc Ninh, nếu muốn tận mắt chiêm ngưỡng giống gà này, các bạn có thể về làng Lạc Thổ, sẽ được những người nuôi gà giới thiệu tỉ mỉ tận tình. Nếu có tài chính hơn chút, có thể mua một ít để thưởng thức. Đảm bảo bạn sẽ mê ngay khi ăn miếng đầu tiên. Âý thế nên nhiều người sau khi thưởng thức gà Hồ gật gù khen ngon “đúng là giống gà tiến vua”.

Tags: phuong tien giao thong, diem du lich bac ninh, khach san bac ninh, dac san bac ninh

Bắc Ninh, Đặc Sản 0 Comment

Mát lòng cháo thái Đình Tổ

Cháo là món ăn phổ biến với người dân Việt từ bao đời nay, từ những hạt gạo tròn mẩy, món cháo đã cúu đói bao người năm 1945. Hay ta lại nhớ lại bữa ăn trong ngày sau khi nhặt được vợ của Tràng trong tác phẩm “Vợ Nhặt” của Kim Lân. Tuy nhiên, du lịch Bắc Ninh, các bạn còn được thưởng thức một món cháo rất đặc biệt, rất khác lạ có một không hai, đó là cháo Thái Đình Tổ.

Hấp dẫn cháo thái Đình Tổ

Hấp dẫn cháo thái Đình Tổ

Cùng làm từ những hạt gạo được người nông dân chắt chiu sớm hôm và mạch nước giếng khơi trong mát nhưng món cháo thái Đình Tổ (huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) lại mang những nét riêng không nơi nào có được. Cháo thái có mặt trong đời sống của người dân Đình Tổ từ lâu đời. Những người già nhất trong làng kể lại rằng, từ khi sinh ra họ đã được ăn món cháo này rồi. Cứ thế, thế hệ này truyền sang thế hệ khác, món cháo thái chỉ có duy nhất ở làng Đình Tổ vẫn luôn được coi là món đặc sản, là một món ăn không thể thiếu trong các dịp lễ lớn của làng, của các gia đình trong làng.
Bát cháo thái dân dã mà chứa đựng trong đó một bề dày văn hóa lịch sử của làng Đình Tổ. Tương truyền rằng xưa kia, trạng nguyên khai khoa Lê Văn Thịnh, trên đường về quê (thôn Bảo Tháp, xã Đông Cứu, huyện Gia Bình) có nghỉ chân ở làng Đình Tổ và được một lão nông mời bát cháo thái. Sau đó, ông nằm nghỉ và trút hơi thở cuối cùng tại đây. Để tỏ lòng biết ơn với vị trạng nguyên tài cao đức trọng, người dân Đình Tổ đã chôn cất ông, lập đình thờ và tôn ông làm thành hoàng làng.
Cũng từ đó, cháo thái dần trở thành một món ăn không thể thiếu của người dân Đình Tổ. Vào ngày hội làng (12/8 âm lịch) hay các dịp lễ quan trọng, dân làng lại nấu cháo thái mang ra đình dâng cúng thành hoàng làng và tổ tiên để bày tỏ lòng biết ơn tiền nhân.

Bà và cháu đang nặn bột cháo

Bà và cháu đang nặn bột cháo

Cháo thái có cách nấu không quá cầu kỳ. Gạo được xay nhuyễn rồi trộn với nước vo thành một cục to, khi nồi nước dùng từ xương lợn đang sôi trên bếp thì dùng dao thái cục bột thành lát mỏng cho rơi xuống nồi. Khi những lát bột chuyển màu trong nghĩa là cháo đã chín nhưng điều đặc biệt là chúng vẫn giữ được hình dạng lúc đầu. Bởi vậy, để thưởng thức món cháo thái, người dân Đình Tổ phải dùng đũa thay cho thìa. Độ béo của thịt gà, thịt lợn băm đan xen cùng với vị ngọt mát của bột gạo hòa quyện cùng với hương thơm cay của hành tươi, hạt tiêu đã tạo nên sức hấp dẫn kì lạ cho món cháo thái.

Những lát bột được thái vào trong nồi nước dùng xương

Những lát bột được thái vào trong nồi nước dùng xương

Theo kinh nghiệm du lịch Bắc Ninh, khi thưởng thức cháo thái, bạn sẽ được nghe những sự tích liên quan đến lịch sử ngôi làng Đình Tổ gắn liền với bát cháo dân dã, bình dị này. Và ăn cháo thái là nhớ về lịch sử và cội nguồn dân tộc. Độ béo của thịt gà, thịt lợn băm, vị ngọt mát của bột gạo hòa quyện cùng hương thơm cay của hành tươi, hạt tiêu tạo nên sức hấp dẫn kì lạ cho món cháo thái.
Không chỉ là đặc sản hấp dẫn của địa phương, cháo thái còn là món quà quê làm say lòng biết bao du khách. Ngoài món tương Đình Đỗ đã có thương hiệu, chính quyền địa phương đang cố gắng quảng bá về du lịch để cháo thái được mọi người biết đến nhiều hơn. Hãy đến với Đình Tổ và thưởng thức món ăn tuyệt vời này nhé!

Tags: phuong tien giao thong, diem du lich bac ninh, khach san bac ninh, dac san bac ninh

Bắc Ninh, Đặc Sản 0 Comment

Cỗ chay Đào Xá- nét đẹp ẩm thực Bắc Ninh

Du lịch Bắc Ninh, nghe danh bánh tẻ làng Chờ, tương Đình Tổ, xôi khúc đã lâu, đã từng được thưởng thức nhưng nơi đây còn có một món khá đặc biệt mà không phải dịp nào cũng có, đó chính là món cỗ chay Đào Xá.
Hàng năm, Đào Xá thường có 3 tiết lệ chính nhưng thường chỉ ngày hội chùa (mồng 7 tháng Giêng) thì bà con xóm làng mới thực sự tham gia vào những hoạt động văn hoá như: hát Quan họ ở nhà chứa, trong sân đình, dưới thuyền, trên đê, đi lễ chùa, chơi hội và làm cỗ chay.

Cỗ chay Đào Xá không thể thiếu trong các dịp hội chùa

Cỗ chay Đào Xá không thể thiếu trong các dịp hội chùa

Xưa kia, chẳng mấy làng thuộc vùng Kinh Bắc lại thiếu những món ăn chay trong ngày hội chùa. Bởi, hầu hết các gia đình đều sắp cỗ chay mang ra chùa cúng Phật, sau đó là tiếp đãi khách thập phương.
Đối với các món ăn chay, theo tôi ở Huế nổi tiếng nhất, nhưng cỗ chay làng Đào Xá lại có những đặc trưng khác biệt, hấp dẫn vô cùng. Nó thể hiện sự khéo léo của người con gái làng Đào. Mâm cỗ chay của làng Đào thường gồm bánh chưng, bánh rợm, bánh rán, bánh cắp, một đĩa giò, 4 bát nấu, 5 bát cháo cái…
Tất cả đều làm từ sản phẩm của nhà nông. Trong những món ăn chay nói trên, bánh cắp và cháo cái là hai món đặc trưng, nhất định không thể thiếu trên mâm cỗ mời khách của làng Đào Xá trước đây.
Bánh cắp được làm từ bột gạo nếp xay nhuyễn rồi đem đun cho tới khi bột chín khoảng 70 % mang ra nhào trộn cùng với vỏ cây vông vang và nước quả dành dành để tạo màu vàng (nếu muốn làm bánh đường thì tẩm thêm với nước đường phên). Khi nhào bột phải lăn thành hình cầu rồi đem cán thật mỏng, cứ lặp đi lặp lại nhiều lần như thế đến khi bột nhuyễn, đạt đến độ mịn, dẻo ưng ý mới nặn thành từng viên bột nhỏ. Những viên bột sẽ được úp vào khuôn sau đó đổ từ khuôn ra, dùng nhíp cắp từng ít bột theo vòng tròn hình chóp (vì thế nên bánh mới có tên gọi là bánh cắp).

Cỗ chay thể hiện sự khéo léo của những cô gái làng Đào

Cỗ chay thể hiện sự khéo léo của những cô gái làng Đào

Trong tất cả công đoạn thì cắp bánh là cầu kỳ và khó nhất, đòi hỏi người làm phải thật khéo léo vì tay trái vừa giữ viên bột vừa xoay cho phần đế của chiếc bánh luôn tròn đều, tay phải dùng nhíp cắp bột dần dần từ trên xuống nhưng hết sức chú ý để đều tay, giữ cho khoảng cách giữa các đường cắp, múi cắp cân đối, không bị lệch. Sau khi hấp bánh xong, mỗi cái bánh nhìn giống như hình một chiếc nón có màu vàng thật đẹp. Đĩa bánh cắp thường được bày đặt ở tầng trên cùng của mâm cỗ chay làng Đào (mâm cỗ đãi khách ở tất cả các làng Quan họ gốc có chung đặc điểm là 3 tầng, đều được bày trên mâm đan, bát đàn nhưng mỗi làng lại có những món ăn đặc trưng, riêng biệt và tầng trên cùng thường dành để bày những món ăn riêng có của làng mình. Chỉ một số món đựng bằng bát lớn, khó chồng lên trên thì mới phải đặt ở tầng dưới, như: cháo cái Đào Xá, bún riêu Đương Xá…).
Ngoài bánh cắp, Đào Xá còn có món chay là cháo cái được làm bằng gạo tẻ ngon xay nhuyễn thành bột. Bột sau khi đã thấu dẻo đem nắm thành từng nắm nhỏ cho vào luộc. Khi bột gần chín vớt ra bỏ vào cối giã cho quện với nhau. Tiếp đến lại nắm thành từng nắm nhỏ, để ra mâm, dùng chai cán mỏng trên mâm, sau đó thái nhỏ như sợi mì, lấy bột gạo khô rắc vào rồi mang nấu với nước luộc gà.

Mỗi gia đình lại có một cách bài trí cỗ chay Đào Xá khác nhau nhưng đều đủ các món cổ truyền

Mỗi gia đình lại có một cách bài trí cỗ chay Đào Xá khác nhau nhưng đều đủ các món cổ truyền

Ngày nay, văn hóa ẩm thực Bắc Ninh phong phú nhưng có một nét rất dân dã thôn quê của những người dân Kinh bắc. Ngày nay, nguồn thực phẩm phong phú nên rất ít gia đình ở Đào Xá còn làm những món ăn này. Hiện, trong làng chỉ còn 5, 7 người biết làm hai món ăn này là cụ Nguyễn Thị Cư, Nguyễn Thị Bảy đều đã ngoài 70 tuổi và một vài phụ nữ khác là con gái và con dâu từng được cụ Cư, cụ Bảy truyền dạy. Theo kinh nghiệm du lịch Bắc Ninh, được ăn cỗ chay Đào Xá là một điều đặc biệt và đáng nhớ vô cùng.

Tags: phuong tien giao thong, diem du lich bac ninh, khach san bac ninh, dac san bac ninh

Bắc Ninh, Đặc Sản 0 Comment

Bún làng Tiền – Ăn rồi nhớ mái

Nếu ăn bún đậu mắm tôm, bún thịt nướng hay bún rêyu cua, một trong những guyên liệu không thể thiếu chính là bún. Du lịch Bắc Ninh, ghé về làng Tiền, thưởng thức những đĩa bún dẻo dai thấy ngon khác lạ. Để tìm hiểu xem tại sao bún làng Tiền lại có thể ngon và nổi tiếng như vậy, tôi cất công ngao du một chuyến về làng Tiềm cổ kinh xem thế nào.

Làng Tiền thuộc xã Khắc Niệm, thành phố Bắc Ninh. Tục truyền rằng, bà chúa Dương Thị Phương và Lê Thị Phúc, người làng này có giọng hát hay được kén vào phủ chúa. Hai bà phát tâm công đức chu cấp tiền cho dân làng xây dựng chùa, tu bổ đình. Xong việc xây dựng chùa, sửa đình số tiền chu cấp vẫn còn, hai bà bèn ban phát (bố thí) cho dân trong vùng bằng cách tung số tiền đó ra sân chùa, người dân các làng nhặt về tiếp tục tu bổ đình, chùa. Từ đó làng này mang tên “Ném Tiền”.

Sợi bún làng Tiền ở đây có đặc điểm khô, dẻo dai và có chút độ chua đòi

Sợi bún làng Tiền ở đây có đặc điểm khô, dẻo dai và có chút độ chua đòi

Người dân nơi đây sinh sống chủ yếu bằng nghề cấy trồng lúa nước trên miền đất trũng (20% diện tích lúa mùa, 80% diện tích lúa chiêm). Đồng thời phát triển nghề phụ: làm bún, bánh cuốn, nấu rượu để thu hút khả năng lao động dịp nông nhàn cho việc phát triển kinh tế gia đình. Đặc biệt bún là sản phẩm nổi tiếng được khách hàng nhiều tỉnh thành ưa chuộng, góp phần ngon miệng trong bữa ăn gia đình, hấp dẫn khách ở tiệm ăn, hàng quán, được nhiều người trầm trồ khen ngợi: “Bún Ném khô sợi, dẻo, giòn. No bụng mà vẫn muốn còn ăn thêm”.
Hiện tại, toàn xã Khắc Niệm có đến 600 hộ làm nghề sản xuất bún. Mỗi ngày nơi đây sẽ cung cấp cho thị trường trên 7 nghìn tấn bún, bánh các loại. Thế nhưng, bún làng Tiền lại có tiếng nhất. Sợi bún ở đây có đặc điểm khô, dẻo dai và có chút độ chua đòi. Có được như vậy là vì gạo làm bún có chất lượng cao và kỹ thuật làm bún hiện đại, tinh xảo.

Bún làng Tiền là nguyên liệu không thể thiểu trong các món ăn như bún rêu cua, bún chả

Bún làng Tiền là nguyên liệu không thể thiểu trong các món ăn như bún rêu cua, bún chả

Sợi bún ở đây có đặc điểm khô, dẻo dai và có chút độ chua đòi. Có được như vậy là vì gạo làm bún là các loại gạo chất lượng cao và đảm bảo quy trình ngâm gạo xay thành bột.Loại gạo làm bún là gạo không dính, không hẩm và không hề pha chế bất kỳ loại gạo nào khác. Trước khi đem xay, gạo sẽ được ngâm một ngày với nước sạch rồi ủ thêm 4 ngày sau đó. Loại gạo này khi say với nước sẽ tạo ra hỗn hợp bột trắng tinh, thơm tự nhiên.
Để làm ra được sợi bún tươi ngon thì cần trải qua rất nhiều các giai đoạn khác nhau. Đầu tiên gạo sau khi ngâm một ngày được cho vào ủ thêm 4 ngày sau đó được xay thành bột nước. Tiếp theo, để bột lắng 3 ngày, bỏ phần nước trong, lấy phần bột đã lắng cứng, cho vào máy làm bún.
Bột được lấy thành tảng cho vào cối của máy, máy tự khuấy nhuyễn với lượng nước vừa đủ, thành bột sền sệt. Bột được dẫn xuống khay, bầu chứa, nhờ lực ép của máy bột được đưa qua bầu hơi nóng làm chín và ép qua khuôn tạo thành sợi bún. Bún sau khi ngâm qua nước vớt lên, để ra từng mớ và có thể bán cho khách hàng có nhu cầu.
Nếu như trước đây, bún được sản xuất theo phương pháp truyền thống, qua nhiều công đoạn, tốn thời gian công sức. Từ khi có máy móc, thời gian sản xuất bún được rút ngắn, lượng nước sử dụng để sản xuất cũng giảm. Làm bún bằng máy sợi bún đều, dẻo ngon và bảo đảm vệ sinh thực phẩm hơn bún làm từ phương pháp thủ công. Do sau khi bột được ủ lên men thay vì dùng vật nặng ép cho ráo nước thì được cho vào máy vắt ly tâm, tách được tối đa phần nước chua. Chính điều đó làm chất lượng bún tốt hơn, có thương hiệu hơn xưa.

Tô bún trông vô cùng hấp dẫn, ăn ngay khi còn nóng thôi nào

Tô bún trông vô cùng hấp dẫn, ăn ngay khi còn nóng thôi nào

Hàng ngày, từng đợt bún làng Tiền được đưa đến khắp các địa bàn trong và ngoài tỉnh nhằm phục vụ nhu cầu sử dụng ngày càng lớn của người dân. Chính vì lịch sử lâu đời cùng chất lượng bún có một không hai mà bún làng Tiền đã dần dần trở thành một thương hiệu uy tín khắp cả nước. Du lịch Bắc Ninh, về với làng Tiền, bạn đừng quên thưởng thức món bún thơm ngon, dân dã này nhé. Theo kinh nghiệm du lịch Bắc Ninh của tôi, món bún chả hay bún rêu cua là ngon nhất. Nhiều người để cảm nhận hết sự ngon, dai, chua chua của bún có thể ăn riêng bún chấm nước mắm. Bất cứ ai đã thưởng thức bùn làng Tiền đều không thể quên được.

Tags: phuong tien giao thong, diem du lich bac ninh, khach san bac ninh, dac san bac ninh

Bắc Ninh, Đặc Sản 0 Comment

Bánh tẻ làng Chờ đi vào trong ca dao

Kinh Bắc được biết đến với truyền thống văn hóa ẩm thực lâu đời, độc đáo và đa dạng, vì thế mà người xưa có câu: “Ăn Bắc, mặc Kinh”. Ẩm thực Bắc Ninh để lại dấu ấn tốt đẹp trong lòng du khách bằng các món ăn dân dã, thôn quê được tạo từ đôi bàn tay khéo léo và óc sáng tạo của người dân địa phương mang đậm nét văn hóa truyền thống là một phần hồn cốt của du lịch Bắc Ninh . Trong số đó món bánh tẻ làng Chờ làm bao thực khách say mê.

Ai ơi bánh tẻ làng Chờ
Dòn , giai, thơm, dẻo nức tình làng quê

Bánh tẻ xuất hiện ở làng chờ khá lâu, là món bánh bình dị, quen thuộc

Bánh tẻ xuất hiện ở làng chờ khá lâu, là món bánh bình dị, quen thuộc

Nghề làm bánh tẻ xuất hiện khá lâu đời ở thị trấn Chờ, trong đó, thôn Nghiêm Xá, Trung Bạn, Phú Mẫn là cái nôi của nghề làm bánh truyền thống này. Thị trấn Chờ có hơn 10 hộ gia đình chuyên làm nghề gói bánh tẻ. Ngày xưa, bánh tẻ thường được làm vào dịp tết. Thứ bánh quê dân dã này từ lâu đã trở thành món quà quý mà bao du khách đặt chân đến đây đều muốn mua về tặng bạn bè, người thân. Từ xưa, mỗi độ Tết đến xuân về, nhà có việc đại sự hay hội làng truyền thống, người dân làng Chờ đem gạo quê có sẵn, lá dong ngoài vườn làm ít bánh tẻ, trước là cúng tổ tiên, sau là thưởng thức rồi dành một ít làm quà biếu. Ngày nay, cuộc sống đã khấm khá hơn, bánh tẻ không chỉ là món ăn không thể thiếu của mỗi gia đình mà còn nức tiếng xa gần. Ấy vậy mà khi nhắc đến bánh tẻ làng Chờ, người dân Yên Phong lại giấy lên niềm tự hào bởi món ăn đặc biệt này. Xung quanh chiếc bánh tẻ là những câu chuyện thú vị vô cùng. Người dân nơi đây coi những chiếc bánh tẻ thơm ngon, đầy đặn trên bàn cúng như lời cảm ơn tới ông bà tổ tiên vì một cuộc sống ấm no, hạnh phúc và những vụ mùa bội thu.

Trước đây bánh tẻ làng Chờ được dừng trong lễ tết, cưới hỏi

Trước đây bánh tẻ làng Chờ được dừng trong lễ tết, cưới hỏi

Mặc dù bánh tẻ là món ăn phổ biến ở nhiều vùng quê trên một đất nước vốn có truyền thống về nông nghiệp nhưng không phải nơi nào cũng làm ra được những chiếc bánh có hương vị thơm ngon đặc biệt như ở mảnh đất Kinh Bắc này. Từng chiếc bánh nhỏ như chứa đựng cái hồn riêng, đặc trưng của con người, của cảnh vật nơi đây.
Để làm ra những chiếc bánh đúng nghĩa bánh tẻ làng Chờ, phải trải qua một quy trình phức tạp, tỉ mỉ. Đúng là chỉ khi bắt tay trực tiếp làm cùng mọi người mới biết rằng để tạo ra một chiếc bánh tưởng chừng đơn giản như thế không hề dễ dàng. Quá trình làm phải trải qua nhiều công đoạn phức tạp, từ khâu chọn gạo, lọc bột, ráo bột, làm nhân,…
Nguyên liệu đầu tiên để làm bánh là gạo tẻ, tiếp đến là thịt lợn, hành khô, mộc nhĩ cùng các loại gia vị mắm, muôi, hạt tiêu, bột canh, lá dong. Bánh tẻ ở một số nơi có thể dùng tất cả các loại gạo tẻ, nhưng riêng bánh tẻ làng Chờ chỉ sử dụng được gạo tẻ CR203. Gạo làm bánh phải ngâm trước khi xay. Sau khi xay phải ngâm ít nhất 2 ngày và chắt nước liên tục để bột không bị chua và có độ dẻo, giòn. Trước khi làm bánh phải chắt hết phần nước trong còn lại trong chậu bột đi, cho bột vào xoong rồi đun nhỏ lửa liên tục khuấy đều gọi là “ráo bột”. Khi nào bột sền sệt, dở sống dở chín rồi bắc xuống gói bánh. Chính điều này tạo nên đặc trưng và hương vị riêng của bánh tẻ Chờ.

Nhân bánh được làm từ thịt nạc, mộ nhĩ ăn đệm đà, béo

Nhân bánh được làm từ thịt nạc, mộ nhĩ ăn đệm đà, béo

Nhân bánh được xem là thứ gia vị không thể thiếu làm nên hồn cốt của món bánh này, là khâu quyết định nên hương vị của bánh tẻ Chờ. Để nhân được ngon, thịt được chọn phải là loại thịt vai, được thái nhỏ hoặc xay nhuyễn. Mộc nhĩ ngâm rửa sạch, thái sợi nhỏ cùng với hành khô hoặc hành tươi. Sau khi thịt, mộc nhĩ, hành sơ chế thì đặt lên bếp, đun lửa to và phi hành thơm lên cùng với hỗ hợp thịt mộc nhĩ và nêm gia vị cho vừa.
Bánh tẻ ăn lúc còn nóng mới ngon. Đặc trưng của bánh tẻ làng Chờ là dẻo chứ không nhão, nát như thứ bánh giò thường thấy, vừa có độ giòn, vừa có vị đậm, vị béo của nhân, thơm mùi lá dong, không thể lẫn vào bất kỳ thứ bánh tẻ nào khác.
Với cách làm bánh gia truyền thơm, ngon, độc đáo mà những nơi khác không có được, khoảng chục năm trở lại đây, nghề làm bánh tẻ không chỉ phục vụ cho người dân trong địa phương mà còn đáp ứng nhu cầu của thực khách mọi miền. Bánh tẻ được thương mại hóa và trở thành món ăn không thể thiếu trên những mâm cỗ tại nhiều nhà hàng, khách sạn, đám cưới hỏi, giỗ, bữa cơm gia đình ngày Tết. Trung bình mỗi ngày, có đến hàng chục ngàn chiếc bánh xuất ra thị trường mang lại thu nhập không nhỏ cho người dân nơi đây.
Nhìn những chiếc bánh tẻ thơm ngon, chúng ta chợt nhớ tới câu ca xưa:

“Ba làng Mịn, chín làng Chờ
Một làng Ô Cách chơ vơ giữa đồng…”.

Bánh tẻ làng Chờ ngày nay được xem là món “khoái khẩu” của mọi người, mọi nhà – món quà quê mộc mạc, gần gũi của vùng Kinh Bắc – Bắc Ninh, gói bánh tẻ như một nét đẹp truyền thống. Theo kinh nghiệm du lịch Bắc Ninh, mỗi chiếc bánh bình dị, mộc mạc phô nét đảm đang của người con gái Kinh Bắc. Đặc biệt, trong những ngày Tết cổ truyền của dân tộc, bánh tẻ làng Chờ là một món ăn ngon, hấp dẫn, góp phần hình thành nét văn hóa ẩm thực phong phú của quê hương Bắc Ninh trong thời kỳ xây dựng và phát triển quê hương theo hướng hiện đại. Chỉ cần nhắc đến làng Chờ, ắt hẳn ai cũng nhớ ngay đến món bánh tẻ đã trở thành thương hiệu của làng.

Tags: phuong tien giao thong, diem du lich bac ninh, khach san bac ninh, dac san bac ninh

Bắc Ninh, Đặc Sản 0 Comment

Thơm ngon đặc sản tương Đình Tổ

Đền làng Đình Tổ, trong mỗi mâm cơm đều không thể thiếu bát tương nhỏ làm nước chấm. Mùi thơm của tương lan tỏa, đủ để cảm nhận sự đậm đà, hấp dẫn của đặc sản truyền thống Bắc Ninh này.

Tương Đình Tổ- đặc sản Bắc Ninh

Tương Đình Tổ- đặc sản Bắc Ninh

Nước ta có nhiều làng nghề làm tương khác nhau như tương Đường Lâm, tương bần Hưng Yên, tương nếp Cự Đà, tương Nam Đàn… Mỗi loại có một hương vị riêng nhưng tương Đình Tổ để lại ấn tượng cho du khách nhiều dư vị, mang đậm cốt cách thân tình, cởi mở của con người nơi đây. Theo bà Chằm (thôn Bút Tháp), gia đình có truyền thống nhiều đời làm tương, trước kia, người làng Đình Tổ ai cũng biết làm tương. Nhà nào cũng có vài vại tương sẵn trong nhà để ăn quanh năm. Tương Đình Tổ khác với các tương khác bởi lẽ nguyên liệu chính là ngô. Ngoài ra còn có đỗ tương và gạo nếp cái hoa vàng. Tất cả đều được ủ và lên men tự nhiên không dùng bất kỳ một loại hoá chất hay men phụ trợ nào.
Theo kinh nghiệm du lịch Bắc Ninh, chúng tôi đến nhà của bà Chằm một trong những người làm tương nổi tiếng ở làng Đình Tổ, làm tương quan trọng nhất là khâu chuẩn bị nguyên liệu. Ngô làm tương phải là loại ngô đỏ, hạt mẩy, căng; đỗ và gạo nếp cũng phải kén loại ngon, hạt to, chắc và đều. Ngô sau khi phơi khô phải sàng kỹ cho hết sạch mày, vỏ bên ngoài, chỉ giữ lại phần sọ bên trong rồi mới đồ lên thành xôi và cho ủ lên men. Đỗ đem rang nhỏ lửa, khi tỏa mùi thơm và ngả màu thì vừa ngon. Rang xong đổ ra mẹt, ngày hôm sau bỏ vào chum sành, đổ nước vừa đủ và ngâm. Trong suốt quá trình ủ ngâm, định kỳ phải kiểm tra, đánh đều, vớt bọt để tương có độ sánh, mịn đạt tiêu chuẩn.

Bát tương luôn có sẵn trên mỗi mân cơm của người dân Đình Tổ

Bát tương luôn có sẵn trên mỗi mân cơm của người dân Đình Tổ

Bình thường, một mẻ tương phải được ủ kỹ trong vòng nửa tháng mới có thể mang ra xay để tạo ra tương thành phẩm. Tương Đình Tổ không chỉ ngon mà còn đảm bảo vệ sinh bởi các khâu đều phải làm sạch sẽ. Bà Chằm cho biết: “Làm tương không hề khó nhưng để làm ra một mẻ tương ngon, bảo đảm vệ sinh đòi hỏi tỷ mỉ, cẩn thận và cả cái tâm của người làm. Tất cả các khâu đều phải làm sạch sẽ. Ngay cả chum vại cũng phải được sát muối khử trùng, đánh sạch, phơi khô kỹ càng. Tất cả đều là những bí quyết truyền đời mà chỉ người Đình Tổ mới biết được”.
Được tham quan những hũ tương do chính bà làm nới thấy hết sự công phu và toàn tâm. Trong sân, những vại tương được đậy kín, tôi cứ ngỡ như lạc vào trong phim truyền hình hàn Quốc nào đó có giới thiệu món ăn đặc sản xứ Hàn. Hôm nay, vại tương của bà vừa đến độ để kịp cho chuyến hàng khách đặt. Chiếc cối đá gia truyền được mang ra rửa sạch phơi khô từ sáng sớm cần mẫn xoay từng nhịp đều đặn tạo ra những mẻ tương vàng ruộm, mịn sánh, béo ngậy.

Một sân các vại tương của bà Chằm

Một sân các vại tương của bà Chằm

Bàn tay bà thoăn thoắt với sự từng trải làm ra những lọ tương ngon, mang chất lượng cao. Có lẽ cũng bởi hương vị thơm ngon, độc đáo mà tương Đình Tổ luôn là thứ sản vật được rất nhiều du khách nhớ tới khi đến thăm vùng đất này. Trước kia, tương được làm chủ yếu để dùng trong gia đình, nhưng từ khi lượng du khách đến làng ngày một nhiều, các nhà làm dôi ra một chút để bán cho khách. Tiếng lành đồn xa, nhiều lái buôn các tỉnh lân cận và cả khu vực miền nam cũng tìm đến để mua tương. Trung bình mỗi tháng nhà bà Chằm tập trung sản xuất tới hơn 300 lít tương vẫn không đủ để cung ứng. Bà cho biết: “Tương làm hoàn toàn bằng các phương pháp thủ công nên muốn sản xuất nhiều hơn cũng không được. Tôi giờ đã già nhưng vẫn cố gắng làm cốt để truyền lại cho con cháu bí quyết và giữ lấy món ăn của ông bà, tổ tiên”. Theo bà, tương làng Đình Tổ chấm rau, thịt luộc, cá nướng, bánh đúc, bánh tẻ, kho cá, kho thịt và chấm bún. Đặc biệt nhất  làng Đình Tổ có món bánh đúc lạc chấm với tương ngon khó cưỡng. Cũng là món ăn dân dã nhưng khí kết hợp với nhau tạo nên sự cuốn hút lạ thường.

Bánh đúc lạc chấm Tương làng Đình Tộ

Bánh đúc lạc chấm Tương làng Đình Tộ

Du lịch Bắc Ninh, dao quanh tham quan đồng quê thanh bình, ghé về Đình Tổ mua lọ tương ngon về làm quà hay để làm nước chấm các món ăn trong gia đình quý vô cùng. Về đây, thấy cảnh du khách từng túi đựng tương xách lên xe mà thấy vui và tự hào bởi tương Đình Tổ không còn nằm trong phạm vi thôn xóm nữa mà trở thành thương hiệu lớn được cả nước biết đến.

Tags: phuong tien giao thong, diem du lich bac ninh, khach san bac ninh, dac san bac ninh

Bắc Ninh, Đặc Sản 0 Comment

Lâng lâng nhớ nem làng Bùi

Nem là một món ăn chơi được nhiều người ưa chuộng, trở thành một phần không thể thiếu trong ẩm thực đất Việt. Nhắc đến Nem người ta nghĩ ngay đến quê hương Thanh Hóa, nhưng tại Bắc Ninh, có một vùng quê cũng nổi tiếng không kém về nghề làm nem, trở thành thương hiệu: nem bùi Đình Xá.

Thơm ngon hấp dẫn nem làng Bùi

Thơm ngon hấp dẫn nem làng Bùi

Món nem bùi ăn dân dã của vùng Kinh Bắc mang hương vị đồng quê làm nao lòng bao du khách xa gần. Làng Bùi nằm bên bờ sông Đuống thơ mộng dần hiện ra trước mắt với con đường bêtông chạy thẳng tắp giữa cánh đồng. Mới vào đến đầu làng đã nghe mùi thơm của thính lan tỏa ngào ngạt khắp nơi như một nét đặc trưng chỉ thấy ở làng nem Bùi. Cuộc sống ấm no, sung túc của người dân, mà chủ yếu do nghề làm nem mang lại như hiển hiện ra trước mắt.
Nem Bùi được khai sinh ở làng Bùi, xã Ninh Xá, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Trải qua bao thăng trầm, vài năm trở lại đây nem Bùi dần có mặt trên thị trường và trở thành món ẩm thực ngon, rẻ, đồng thời là món quà trao tay ý nghĩa cho bạn bè, người thân sau mỗi dịp du lịch Bắc Ninh.
Người dân địa phương gọi nem Bùi là nem thính. Thính là tiếng địa phương dùng để chỉ gạo rang đã xay nhuyễn. Gạo làm nem phải được vo và ngâm kỹ trong nước khoảng 3 giờ đồng hồ sau đó vớt ra rổ chờ cho ráo nước rồi đem đi rang. Gạo sau khi rang phải đảm bảo độ tươi xốp cũng như độ vàng đều của hạt. Khâu tiếp theo là xay gạo. Người vùng này thường dùng cối để xay, xay đến khi gạo nhuyễn và mịn là dùng được.

Nếu ai một lần thưởng thức món nem này hẳn sẽ không thể nào quên vị bùi bùi của bì lợn quyện trong thính

Nếu ai một lần thưởng thức món nem này hẳn sẽ không thể nào quên vị bùi bùi của bì lợn quyện trong thính

Mỗi nhà một bí quyết, nhưng đều thơm ngon. Nếu ai một lần thưởng thức món nem này hẳn sẽ không thể nào quên vị bùi bùi của bì lợn quyện trong thính. Theo kinh nghiệm du lịch Bắc Ninh, người dân địa phương cho biết, nguyên liệu làm món nem Bùi phải là giống lợn ỉ đen, lưng gẫy hình yên ngựa, mõm ngắn nuôi bằng cám gạo và bèo cái, hoặc rau chuối. Cả con lợn thịt ra cũng chỉ lấy được hai cái thăn và phần mỡ gáy để làm nem. Công đoạn làm rất công phu và cẩn thận để giữ vệ sinh an toàn thực phẩm.
Họ dùng dao sắc thái thịt chỉ, rồi sử dụng tỏi, ớt, dấm chua bóp với thính gạo xay, nắm thật chặt rồi gói lại bằng lá chuối. Sau 3 ngày nem tự chín quện mùi thơm hấp dẫn. Mở lá chuối ra, chiếc nem hình vuông được cô chặt có màu hồng nhạt, mùi thơm của thính, vị béo ngậy, chua của thịt hấp dẫn người ăn.
Là một món ăn ít kén người nên bạn có thể ăn nem Bùi vào bất cứ thời điểm nào trong ngày. Dù là một món ăn chơi chứ không phải ăn no, nhưng vào buổi trưa, với thời tiết hanh nắng thì chiếc nem bùi cùng ly bia mát lạnh là lựa chọn lý tưởng. Lấy một nhúm nem quấn với lá sung cắn một miếng ngon tuyệt. Nem Bùi không cần chấm với nước chấm vì nem đã đầy đủ gia vị vừa ăn, nếu thích, thực khách có thể chấm thêm với chút tương ớt.

Nem có thể ăn được 4 mùa, có thể ăn ngay hoặc đẻ tủ lạnh hai, ba ngày

Nem có thể ăn được 4 mùa, có thể ăn ngay hoặc đẻ tủ lạnh hai, ba ngày

Nem làng Bùi có thể sử dụng trong ngày hoặc bảo quản trong tủ lạnh 2-3 ngày, đối với nem được đóng gói trong túi ni lông thì để được lâu hơn. So với thu nhập ở vùng nông thôn và so với những nghề khác thì nem Bùi đem lại nguồn lợi khá cao cho người làm nghề nên bạn có thể đi đến bất cứ đâu tại làng Bùi đều có thể tìm mua cho mình thứ đặc sản thơm ngon này.
Nem làng Bùi còn rất có tiếng với người hải ngoại. Một số người Việt sống ở nước ngoài khi có dịp về nước cũng tranh thủ mua nem Bùi mang về ăn và làm quà. Sự phổ biến của món ăn này đã hứa hẹn sẽ chẳng bao lâu nữa, thương hiệu nem làng Bùi sẽ bay xa khắp nơi và cùng với bánh phu thê trở thành đệ nhất đặc sản Kinh Bắc.

Tags: phuong tien giao thong, diem du lich bac ninh, khach san bac ninh, dac san bac ninh

Bắc Ninh, Đặc Sản 0 Comment

Dẻo thơm bánh phu thê Đình Bảng

Vào mỗi dịp cưới xin, một trong những loại bánh không thể thiếu chính là bánh phu thế. Đây là loại bánh truyền thống,đặc biệt là người dân Đình Bảng. Về du lịch Bắc Ninh, nhất là mỗi độ Tết đến xuân về, người dân lại nô nức chuẩn bị những cặp bánh thơm ngon với mong ước cuộc sống sung túc, ấm no, hạnh phúc.

Bánh phu thê Đình Bảng trông rất đẹp mắt

Bánh phu thê Đình Bảng trông rất đẹp mắt

Ai chưa được ăn thì bị hấp dẫn bởi cái tên của nó, còn ai đã từng một lần thưởng thức thì khó có thể quên. Bánh phu thê từ xa xưa đã được coi là thứ bánh sang trọng dùng trong những dịp lễ Tết, cưới hỏi hoặc dùng làm quà biếu. Bánh được gói bằng những tấm lá dong giản dị, rồi luộc lên. Có một điều lạ ở thứ bánh này đó là không khoe mùi, tỏa hương như bánh rán, bánh khúc; chỉ tới khi bóc bánh đặt lên đĩa nó mới “quyến rũ” các giác quan của bạn. Dưới lớp vỏ bánh sắc vàng trong suốt lộ rõ nhân bánh mới biết để làm ra được cặp bánh công phu thế nào.
Tục truyền, tên gọi bánh phu thê là do sự tích vua Lý Anh Tông đi đánh trận, người vợ ở nhà thương chồng vất vả đã tự tay vào bếp làm bánh gửi ra cho chồng. Vua ăn thấy ngon, nghĩ đến tình vợ chồng đã đặt tên bánh là bánh phu thê. Cũng vì tên gọi ấy mà bánh phu thê luôn được buộc thành cặp, biểu trưng cho sự gắn bó son sắt của tình chồng vợ. Đồng thời, bánh phu thê còn mang ý nghĩa cho sự che chở của tình cảm vợ chồng, sự kết nối của tình yêu. Bởi thế, cùng với trầu cau, bánh phu thê thường được gói thành từng cặp, là loại bánh biểu tượng của thủy chung, mang ý nghĩa cầu chúc cho hạnh phúc vợ chồng bền chặt ,trở thành lễ vật của cưới hỏi, trở thành đặc sản của vùng Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

Bánh Phu Thê được sử dụng vào ngày cưới hỏi, lễ tết

Bánh Phu Thê được sử dụng vào ngày cưới hỏi, lễ tết

Dù nguyên liệu ở đâu cũng có nhưng chỉ người làng Đình Bảng – Bắc Ninh mới có bí quyết để làm được bánh ngon và đẹp.
Bánh được làm từ gạo nếp, hoa dành dành, đu đủ, đỗ xanh, dừa. Gạo làm bánh là gạo nếp cái hoa vàng, hạt nhỏ đều, đem xay thành nước, để chắt lấy tinh bột rồi đem phơi khô. Mỗi kg gạo sẽ cho khoảng 400 gram bột nếp. Bên cạnh gạo, đỗ xanh cũng là loại do bà con tự trồng. Hạt đỗ sau thu hoạch được phơi kỹ, lựa chọn rồi đem nấu chín và giã nhuyễn. Để có được mẻ bánh ngon, đạt tiêu chuẩn, khâu làm bột gạo cần tỉ mỉ, đậu xanh phải sạch, bởi nếu lẫn tạp chất bánh sẽ nhanh hỏng. Ngoài ra, để làm vỏ bánh phu thê, bà con còn chuẩn bị thêm đu đủ xanh nạo sợi và quả dành dành khô. Đây đều là những loại cây dễ tìm, có ngay tại địa phương. Đu đủ giúp tạo độ dai, giòn, còn quả dành dành tạo màu đẹp mắt cho vỏ bánh.

Bánh được làm từ gạo nếp, hoa dành dành, đu đủ, đỗ xanh, dừa

Bánh được làm từ gạo nếp, hoa dành dành, đu đủ, đỗ xanh, dừa

Đu đủ sau khi nạo sợi được trộn với nước dành dành, tiếp đó thêm bột nếp lọc, nhào đều tay đến khi bột quánh, dẻo, nhuyễn và vàng. Khi ấy, người làm mới lấy nhân đỗ đã chín, thêm dừa tươi nạo sợi để tăng độ béo, ngậy hoặc thêm hạt sen, tùy theo công thức và khẩu vị. Người làm nặn nhân thành từng viên tròn, đặt vào lớp vỏ bột rồi gói lại bằng lá chuối tây dẻo đã làm sạch hoặc luộc chín. Trước khi gói, lá chuối được quét một lớp dầu ăn mỏng để bánh khỏi dính.
Sau khi gói, bánh phu thê được cho vào nồi hấp như đồ xôi, sau cùng, gói thêm một lớp lá dong xanh, sạch, để ráo và tước bớt cọng. Bánh thành phẩm được buộc thành cặp bằng lạt điều. Theo người làm, lá dong xanh tượng trưng cho tấm lòng chung thủy, sắt son, lạt điều là sợi tơ hồng gắn kết tình vợ chồng thắm thiết.
Bánh phu thê đạt tiêu chuẩn khi phần bột trong suốt, nhìn thấy cả những sợi đu đủ và có màu vàng đẹp mắt. Ăn một miếng bánh, thực khách cảm nhận được vị giòn của đu đủ, vị dẻo của bột nếp, vị ngọt nhẹ của đường, vị béo bùi của đậu xanh, dừa hòa quyện.

Bánh phu thê là món quà quê không thể bỏ qua khi du lịch Bắc Ninh

Bánh phu thê là món quà quê không thể bỏ qua khi du lịch Bắc Ninh

Theo kinh nghiệm du lịch Bắc Ninh, bánh phu thê làm tự nhiên, không chứa chất bảo quản chỉ để được trong vòng 3 ngày. Sản phẩm được tiêu thụ chủ yếu ở địa phương và một số tỉnh lân cận. Làng Đình Bảng- Bắc Ninh hiện có hàng chục nhà làm bánh phu thê. Vào dịp Tết Nguyên đán, người mua bánh đông tới mức làm không xuể, mỗi ngày cả làng tiêu thụ hàng nghìn cặp bánh. Từ xưa đến nay, bánh phu thê vẫn là vật phẩm không thể thiếu trong lễ tết, cưới hỏi của người dân xứ này. Bánh phu thê, đó là sản vật của người dân Kinh Bắc nói riêng, cần được giữ gìn và phát triển.

Tags: phuong tien giao thong, diem du lich bac ninh, khach san bac ninh, dac san bac ninh

Bắc Ninh, Các điểm du lịch, Đặc Sản 0 Comment

Chuột đồng Đình Bảng – Dân dã đến cao sang

Vùng đất Kinh Bắc không chỉ nổi tiếng với những làn điệu quan họ mà còn hấp dẫn bởi những món ngôn đậm chất làng quê, trong đó hấp dẫn nhất là thịt chuột đình Bảng. Nói đến thịt chuột, nhiều người sẽ có cảm giác ghê sợ, nhưng ở Đình Bảng đây lại được coi là đặc sản. Tuy không phổ biến như thịt chó, gà hay bò nhưng người dân Bắc Ninh vẫn sử dụng thịt chuột như một loại thức ăn thường ngày. Thậm chí không ít nhà còn bày trong mâm cỗ cưới món đặc sản này. Du lịch Bắc Ninh, cùng thưởng thức món ăn thú vị này.

Hấp dẫn món chuột đồng Đình Bảng

Hấp dẫn món chuột đồng Đình Bảng

Ngay từ thời Pháp thuộc đã có bài thơ ca tụng 7 món thịt chuột trứ danh của làng Đình Bảng rằng:

Bao giờ bạn đến thăm nhà
Thưởng thức đặc sản đậm đà tình quê
Mùa đông xin đón bạn về
Ân món thịt chuột hương quê tự hào.

Theo người trong làng, Đình Bảng săn chuột không phải để kiếm sống như nhiều nơi khác và thịt chuột cũng không phải là món ăn chỉ dành cho người nghèo. Nó xuất phát từ việc giúp mùa màng bội thu.
Với người dân nơi đây, việc bắt chuột để ăn vẫn được thực hiện quanh năm nhưng nhộn nhịp nhất vẫn là sau vụ gặt…Lúc ấy chuột nhiều và béo. Người dân ở Đình bảng cho biết, ăn thịt chuột đồng rất lành, có tác dụng mạnh khí, giảm đau, liền xương …nhưng phải biết cách làm. Nếu đang hình dung về những chú mèo lang thang ngõ xóm thì khi bước chân vào làng, khách du lịch sẽ không khỏi ngạc nhiên khi thay vì mèo, ở đây nhà nào cũng nuôi chó để bắt chuột.

Chuột đồng được nướng trước khi chế biến

Chuột đồng được nướng trước khi chế biến

Người Đình Bảng dùng chó để săn chuột chứ tuyệt đối không dùng cách đào hang. Cách này giúp bắt được nhiều chuột và vẫn còn sống sau khi bị bắt. Dùng bẫy cũng là cách phổ biến để bắt chuột ở đây, nhưng chuột thường bị gãy chân, chết trước khi người làng kịp thu gom. Ngoài ra, bắt chuột theo cách truyền thống vẫn được áp dụng vào mùa rơm rạ. Người làng đốt rơm rồi quạt cho khói xông vào các cửa hang chỉ chừa lại cửa duy nhất buộc chuột phải chạy ra ngoài và chui vào rọ.
Làm thịt chuột cũng có quy trình, không hề đơn giản. Nước phải đun thật sôi rồi hoà thêm nước lạnh để nước còn khoảng 800C. Chuột đập chết mang nhúng vào nước đã pha cho tuột lông, rồi đem ra làm lông. Phải lấy dao sắc mỏng để cạo cho sạch các mảng lông dài và nhỏ. Lúc này thịt chuột rất trắng, trông sạch sẽ. Người ta phải cắt bỏ chân, đầu, đuôi và những lá gan bị đen, đăc biệt lưu ý là bỏ 4 cục hoi (hạch) ở 2 bên bẹn và 2 bên cổ chuột, sau đó xát muối thật kỹ rồi rửa sạch.

Chuột chuẩn bị được chế biến thành những món ăn hấp dẫn

Chuột chuẩn bị được chế biến thành những món ăn hấp dẫn

Thịt chuột đồng có màu trắng và thơm ngon như thịt gà, được sử dụng như một nguyên liệu chính, kết hợp với các phụ gia để chế biến nhiều món ăn từ đơn giản đến cầu kỳ. Trong đó, phổ biến nhất là thịt luộc ép lá chanh. Thịt luộc chín, vớt ra ép thớt cho chảy bớt nước mỡ, để vài giờ lấy ra chặt nhỏ, rắc lá chanh chấm với muối chanh tiêu, ăn sẽ giòn và đậm đà hơn thịt gà.
Thông dụng không kém là món chuột đồng nấu đậu. Thịt được chặt thành miếng rang trên bếp với nước mắm đến khi dậy mùi thơm thì cho đậu phụ vào om, lúc bắc ra cho thêm ít hành răm ăn với bún. Còn món chuột nấu đậu thì dùng những con nhỏ, chặt thịt thành miếng, rửa với nước muối cho sạch, để lên bếp rang với nước mắm nhưng không được đậy vung nồi vì nếu đậy sẽ có mùi oi khói.
Khi thịt dậy mùi thơm thì cho đậu phụ vào om, lúc nhấc ra khỏi bếp thêm ít hành răm. Ngoài ra người ta còn chế biến thành các món chuột nấu đông, chuột giả cày, chuột rán, chuột xào chua ngọt và sốt cà chua…
Với những thực khách sành đồ nhậu, chuột xào xả ớt là món không thể bỏ qua khi đến Đình Bảng. Sau khi ướp tỏi, gia vị, ngũ vị hương, nước tương, thịt được xào trong chảo mỡ phi hành, tỏi và sả ớt giã nhuyễn. Khi chín múc ra đĩa, hương thơm của sả và vị cay nồng của ớt sẽ hòa quyện cùng vị béo ngậy của thịt, ăn lúc còn nóng thì có lẽ không món nào bằng.

Thịt chuột Đình Bảng luộc ép lá chanh

Thịt chuột Đình Bảng luộc ép lá chanh

Ngoài ra, chuột đồng còn được chế biến thành các món chuột nấu đông, chuột giả cầy, chuột rán, chuột xào chua ngọt hay sốt cà chua, khiến không ít người phải ứa nước miếng khi các món được bày ra trước mắt. Người dân ở Đình bảng cho biết, ăn thịt chuột đồng rất lành, có tác dụng mạnh khí, giảm đau, liền xương.
Ngày nay thịt chuột ở Đình Bảng tuy không còn thịnh như ngày trước khi có mặt ở nhiều nơi, nhưng những người sành ăn Hà Nội vẫn thường tìm về Đình Bảng để thưởng thức món ăn dân dã. Đến đây, không quá khó để tìm được hàng quán bán các món ăn từ chuột đồng ở các thôn Xuân Đài, Thịnh Lang, thôn Hạ, Thượng, Đình.
Nếu có dịp đến với Đình Bảng và chưa từng một lần thưởng thức đặc sản của quê hương Kinh Bắc, hãy bỏ qua nỗi sợ hãi ban đầu và nếm thử các món ngon từ thịt chuột, chắc chắn sẽ nghiền và muốn ăn lại lần hai.
Không chỉ riêng làng Đình Bảng nữa, thịt chuột hiện giờ đang lên ngôi ở thành phố, nó xuất hiện ngày càng nhiều trong thực đơn của dân nhậu, len lỏi cả vào bếp ăn của các bà nội trợ… Hiện nay, theo kinh nghiệm du lịch Bắc Ninh, toàn xã có khoảng hơn 20 “chuyên gia” săn chuột thường xuyên, bình quân mỗi ngày săn được gần 2 tạ, giá 1 kg chuột thịt đã qua sơ chế 45- 50 nghìn đồng. Hãy một làn về Đình Bảng, thưởng thức món ăn độc đáo này, tôi cá với bạn, ăn xong bạn sẽ thích ngay từ mùi vị đến sự thơm, chắc của chuột đồng.

Tags: phuong tien giao thong, diem du lich bac ninh, khach san bac ninh, dac san bac ninh

Bắc Ninh, Các điểm du lịch, Đặc Sản 0 Comment

Đậm đà bánh khúc làng Diềm

Du lịch Bắc Ninh về với làng Diềm, ai cũng ngỡ ngàng trước khung cảnh bình yên, thân thuộc, nơi đây có mái đình cong cong, có cây đa bến nước và cả những khúc hát quan họ trữ tình. Không chỉ thế, làng Diềm còn nổi tiếng với món ăn dân giã nhưng thấm đậm tình quê, là nỗi nhớ nhưng của bao thế hệ người con sinh ra từ làng.

Thơm ngon bánh khúc làng Diềm

Thơm ngon bánh khúc làng Diềm

Làng Diềm là tên gọi nôm của thôn Viêm Xá, xã Hòa Long, thành phố Bắc Ninh. Là ngôi làng cổ có đền thờ Đức Vua Bà, thuỷ tổ quan họ, từ lâu nơi đây đã trở thành điểm hẹn của du khách gần xa mỗi khi muốn lắng nghe và tìm hiểu câu ca quan họ. Nhưng không chỉ có vậy, những ai có dịp đến đây, tất thảy đều không thể quên được món bánh khúc bình dị, thảo thơm của vùng quê Kinh Bắc.
Theo các bậc cao niên trong làng, kể rằng món bánh khúc đã có từ lâu đời. Đời này nối tiếp đời kia làm ra những chiếc bánh khúc bình dị mà độc đáo. Nghề làm bánh khúc ở làng Diềm đã trở thành nét đẹp văn hoá truyền thống vào dịp lễ tết, hội làng, mùng một, ngày rằm.

Khau khúc là loài rau mọc ngoài vườn, ngoài đồng là cái hồn của món bánh khúc

Khau khúc là loài rau mọc ngoài vườn, ngoài đồng là cái hồn của món bánh khúc

Chẳng thể nhớ bánh khúc làng Diềm có từ khi nào, chỉ biết vào những ngày lễ tết, hội hè, rằm hay mùng một, bánh mới được làm để mời họ hàng, quan khách. Tên bánh xuất phát từ chính loại cây làm nên nó – rau khúc. Có điều lạ là người làng Diềm không trồng mà thu hái rau khúc tự mọc ven các bãi đất trống, đất bồi ven sông, ven ruộng, bởi muốn trồng thì rau cũng tự lụi, không thu hoạch được.
Sở dĩ gọi là bánh khúc vì nguyên liệu làm bánh chính là từ rau khúc. Điều đặc biệt nữa là người làng Diềm không trồng rau khúc mà chỉ thu hái rau khúc mọc tự nhiên ở ven ruộng, các bãi đất trống hay đất bồi ven sông, bởi muốn trồng thì rau cũng tự lụi, không thu hoạch được. Bánh khúc làng Diềm được làm hoàn toàn thủ công. Mỗi chiếc bánh chứa đựng tâm tư, tình cảm của người dân làng Diềm.
Để làm được một chiếc bánh khúc ngon không khó, nhưng quy trình đòi hỏi sự tỷ mỷ và mất khá nhiều thời gian, chính vì thế ngày xưa ông bà ta thường dạy con gái trước khi về nhà chồng là phải học làm bánh khúc. Quả thực, cũng chẳng sai. Xưa kia gạo nếp làm bánh khúc là gạo nếp cái hoa vàng nổi tiếng và phải được chọn lựa kỹ, bởi nếp ngon thì bánh mới mềm và dẻo, nhưng ngày nay khi giống nếp cái hoa vàng trở nên khan hiếm thì người làm bánh cũng có thể thay bằng loại gạo khác. Bột làm bánh không phải hoàn toàn là gạo nếp mà theo tỉ lệ 8 gạo nếp 2 gạo tẻ. Gạo tẻ sau khi đem ngâm được giã nhuyễn với lá khúc, tỉ lệ gạo và lá làm bánh cũng là một bí quyết để có được nồi bánh như ý, bởi nếu nhiều gạo quá bánh khúc sẽ không có mùi vị đặc trưng của lá khúc, hay lượng gạo không đủ bánh sẽ thiếu đi độ kết dính.

Bánh khúc có nhân đậu xanh và thịt lợn ăn béo, bùi và dẻo

Bánh khúc có nhân đậu xanh và thịt lợn ăn béo, bùi và dẻo

Một trong những nguyên liệu làm nên đặc trưng của món bánh chính là rau khúc. Rau khúc có hình dáng bên ngoài như cỏ dại với màu lá xanh bàng bạc, phủ lớp phấn trắng bên trên. Những cây rau khúc được chọn để làm bánh khúc là những nhỏ bản, dày bụ và đã ra hoa, có như vậy mới làm nên hương vị bánh khúc đặc trưng. Cũng có những nơi đem lá khúc phơi khô, nghiền bột để dùng khi hết mùa rau, tuy nhiên rau khúc tươi vẫn thơm và ngon hơn so với rau khúc đã phơi khô. Rau khúc sau khi hái về sẽ được đem sơ chế, rửa sạch, băm nhỏ rồi bỏ vào nồi luộc sôi, rồi chắt bỏ phần nước, chỉ lấy phần rau chín. Tiếp đến, người ta đem phần rau đó giã nhuyễn cùng với bột gạo tẻ Kháng Dân để làm vỏ bánh. Loại gạo này rất phù hợp để làm bánh vì nó đủ độ kết dính mà lại không quá dẻo. Từ hai màu trắng – xanh của bột và rau khúc, cứ giã nhịp nhàng cho đến khi nắm bột mịn chuyển màu xanh nhạt đều mịn là được.

Bánh khúc được làm vào các dịp lễ quan trọng

Bánh khúc được làm vào các dịp lễ quan trọng

Tiếp đến là nhân bánh, có thể thưởng thức bánh khúc làng Diềm với hai loại nhân: nhân hành và nhân đỗ. Bánh khúc nhân đỗ có vị bùi của đỗ, vị béo của thịt mỡ và vị thơm của hạt tiêu. Đậu xanh bỏ vỏ, ngâm nước cho bở, đồ chín tới, giã thật mịn, xào với ít hành băm nhỏ và thịt nạc dăm xay nhuyễn, trộn vào nhau để làm nhân. Tuy nhiên, ngon nhất vẫn là thịt ba chỉ thái nhỏ, để khi ăn, cảm nhận được vị béo của mỡ, thêm chút tiêu cho dậy mùi và cay cay.
Bánh khúc nhân hành có khác hơn đôi chút. Hành được dùng làm nhân bánh khúc nhất thiết phải là hành khô, cộng thêm mộc nhĩ, hạt tiêu, răm, thịt ba chỉ băm nhỏ trộn lẫn với nhau. Bánh khúc thường được người dân làng Diềm nặn với 2 hình thức: tròn như bánh rán hoặc hình tai voi, nhưng dù với hình thức nào, vỏ bánh cũng phải dát mỏng mà không để lộ nhân.

Đến làng Diềm, đừng quên thưởng thức món bánh khúc truyền thống này nhé

Đến làng Diềm, đừng quên thưởng thức món bánh khúc truyền thống này nhé

Sau khi dàn mỏng lớp vỏ bao kín nhân bánh, xếp từng lượt bánh vào nồi hấp như đồ xôi, mỗi lớp bánh lại rắc một lượt gạo nếp ngon đã ngâm kỹ làm áo. Thưởng thức bánh khi còn nóng hổi là thơm ngon nhất. Lúc này, lớp vỏ bánh bóng, dai, hòa quyện cùng mùi thơm của rau khúc, hạt tiêu, vị bùi của đỗ, thịt, giòn của mộc nhĩ. Khách vừa thổi vừa ăn để cảm nhận hương thơm, bùi của lá khúc cùng vị ngậy béo của nhân đỗ thịt. Chiếc bánh khúc chính là sự kết hợp hoàn hảo các sản vật đặc trưng của làng Diềm, mang đến hương vị độc đáo, hấp dẫn mà cũng rất đặc trưng, không dễ gì trộn lẫn. Dù ai ở đâu, theo kinh nghiệm du lịch Bắc Ninh, hãy một lầm thưởng thức món ăn dân giã nhưng giàu giá trị truyền thống.

Tags: phuong tien giao thong, diem du lich bac ninh, khach san bac ninh, dac san bac ninh

Bắc Ninh, Các điểm du lịch, Đặc Sản 0 Comment